Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Xin chào Quý bạn đọc, cảm ơn bạn đã quan tâm đến website của Asklaw.com.vn. Công ty Luật TNHH Asklaw sẽ thông tin tới bạn về “Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” như sau;

Xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ ngày càng hiện đại hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến và tinh vi. Để xử lý hành vi vi phạm thì cần xác định có hành vi vi phạm hay không, nhưng đôi khi việc xác định có hay không hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ gặp nhiều khó khăn.

I. Căn cứ pháp lý

  • Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, 2019
  • Nghị định 105/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

II. Nội dung

Căn cứ để xác định hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP

“Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi  có đủ các căn cứ sau đây:

1. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

2. Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.

3. Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.

4. Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.

Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.”

1. Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 

– Quyền sở hữu trí tuệ được xác lập dựa trên hai cơ sở: đăng ký hoặc sử dụng thực tế

+ Trên cơ sở đăng ký: nhãn hiệu; kiểu dáng công nghiệp; … đã thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, đã được cấp văn bằng bảo hộ và đang trong thời hạn bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

+ Trên sở sở thực tiễn sử dụng: nhãn hiệu nổi tiếng, bí mật kinh doanh; … chủ sở hữu phải chứng minh quyền sở hữu của mình được xác lập thông qua việc sử dụng hợp pháp đối tượng sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và cung cấp tài liệu, chứng cứ về đối tượng sở hữu trí tuệ

2. Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét

Tuỳ thuộc vào đối tượng sở hữu trí tuệ mà yếu tố xâm phạm sẽ khác nhau

Ví dụ: yếu tố xâm phạm về nhãn hiệu được xác định:

– Thứ nhất, dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

– Thứ hai, hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

3. Thứ ba, thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

– Người thực hiện hành vi xâm phạm không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

– Bên cạnh chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng, pháp luật quy định một số trường hợp ngoại lệ cho phép chủ thể khác có thể sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ như: sử dụng với mục đích phi thương mại (sử dụng cá nhân, nghiên cứu, giảng dạy…); sử dụng lành mạnh, trung thực không làm ảnh hưởng đến việc khai thác cũng như lợi ích của chủ sở hữu ….

4. Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam

– Căn cứ xác định không gian xảy ra hành vi. Do tính chắc giới hạn về lãnh thổ của Sở hữu trí tuệ nên chỉ xem xét hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ được bảo hộ khi hành vi đó xảy ra tại Việt Nam.

– Do tính phi biên giới của mạng internet nên những hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tại Việt Nam thì cũng bị coi là xâm phạm sở hữu trí tuệ xảy ra tại Viêt Nam.

Trên đây nội dung về Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hy vọng có ích cho Quý bạn đọc.

Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Asklaw để được hỗ trợ tốt nhất.

Địa chỉ: Số 3, ngõ 76/8 Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Số điện thoại: 0962.976.053/024.6681.0622.

Trân trọng và cảm ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.